Trở lại trang chánh của Website Thiên Lý Bửu Tòa
|
VỌNG
MỘT ÁNH SAO
Bài nói chuyện tại Cơ quan Phổ thông Giáo lý
Đại đạo
9.00
sáng thứ Ba 24.9.2002 (18.8 Nhâm Ngọ) Nhà thơ LÝ BẠCH LÊ ANH DŨNG Trong
một kiếp ở đời Đường (Trung
Quốc), đức Lý là thi hào Lý Bạch (699-762), sinh ra
ở miền đất xa xôi heo hút phía tây là làng Thanh Liên,
huyện Xương Minh (sau đổi thành Chương
Minh), tỉnh Tứ Xuyên. Ngài
tự Thái Bạch, hiệu Trường Canh, biệt
hiệu Thanh Liên (cánh sen xanh, cũng là tên làng). Khi kết
hợp với họ Lý, Ngài có các tôn hiệu như Lý Thái Bạch, Lý Trường Canh, Lý Thanh Liên, Thanh
Liên Cư sĩ, Thanh Liên Học sĩ. Hai tôn hiệu khác
của Ngài là Thái Bạch Kim tinh và Động Đình hồ Đại
tiên trưởng (hồ Động Đình là một
danh thắng ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc). Theo
huyền sử, trước khi sinh Ngài, mẹ Ngài nằm
mộng thấy sao Kim (Venus) rơi vào bụng. Sao Kim
tức là Kim tinh, người Trung Quốc gọi là sao Thái
Bạch, sao Trường Canh, sao Khải Minh; người
Việt Nam gọi là sao Hôm, sao Mai (hay sao Sâm, sao Thương). Do
sao Kim quay quanh mặt trời ngược chiều và nhanh hơn
trái đất, nên người trần gian có thể nhìn
thấy sao này ở phía tây vào đầu hôm (sau khi
mặt trời lặn một lúc), nên gọi là sao Hôm, sao
Trường Canh; và có thể nhìn thấy ở phía đông
trước khi mặt trời mọc nên gọi là sao Mai,
sao Khải Minh. CHÚ: Sao
Kim to gần xấp xỉ trái đất, là thiên thể sáng
nhất trên bầu trời đêm. Sao Kim quay quanh mặt
trời từ đông sang tây còn trái đất quay quanh
mặt trời từ tây sang đông. Quỹ đạo sao
Kim nhỏ hơn trái đất nên sao Kim quay giáp một vòng
(vận tốc 35 km/giây) chỉ mất 243 ngày trong khi trái
đất quay (vận tốc 29,8 km/giây) mất hết 365
ngày 6 giờ. Khi đức
Thượng đế lập đạo Cao Đài, thì
đức Lý là Nhứt trấn Oai nghiêm, thay mặt đạo
Tiên. [1] Do cơ Đạo biến chuyển, đức Chí
tôn lại trao đức Lý thêm một trọng trách,
đó là Giáo tông Vô vi Đại đạo Tam kỳ
Phổ độ. Trong một đàn cơ tại Chợ
Lớn ngày 29.10.1926, đức Chí tôn dạy môn đệ:
“Vậy
từ đây quyền thưởng phạt đã giao vào
tay Lý Thái Bạch. Các
con liệu mình mà cầu rỗi nơi Người.”
[2] Hai
chữ liệu mình của Thầy có thể hiểu là
lời nhắc nhở các môn đệ hãy thận
trọng giữ gìn trước quyền uy của đức
Lý Giáo tông. Ngay
sau phần dạy đạo của đức Chí tôn,
trong cùng ngày hôm ấy các Tiền bối Cao Đài tái
cầu và đức Lý giáng đàn dạy rằng: “Từ
đây Thầy đã giao quyền thưởng phạt
về nơi tay Bần đạo. Vậy các đạo
hữu khá hết lòng lo lắng, vun đắp nền
Đạo cho vững vàng, hiệp ý với Thiên cơ mà
bước lần lên địa vị cao thượng...”
[3]
Trước khi rời ngọn linh cơ, đức Lý
đã lưu lại những lời nghiêm huấn như
sau: “Từ
đây Bần đạo phải để ý dìu dắt bước
đường cho các đạo hữu. Phải gắng công
thêm nữa cho hiệp với cơ Trời. Ai hữu phước
thì địa vị đặng cao thêm. Ai vô phần thì
thì bị đọa Tam pháp. Phước phần cũng khó
lựa người. Rủi rủi may may, đừng trách
nơi Bần đạo.” [4]
Cách sau đàn ấy khoảng một tháng, ngày 26.11.1926,
đức Chí tôn thêm một lần nhắc nhở môn
đệ: “...
nhứt là Thái Bạch Kim tinh rất khó. (...) Các con
chớ dễ ngươi phạm thượng. Nghe à.”
[5]
Đọc sử Đạo, người tín đồ Cao
Đài thường có dịp nghiệm suy lời dạy
của Thầy. Đây là một trường hợp tiêu
biểu:
Sau khi một môn đệ trong hàng Tiền khai tạ
thế,[6] đức Chí tôn giáng đàn ngày 11.12.1926 và
dạy hai vị Đầu sư Thượng Trung Nhựt
và Ngọc Lịch Nguyệt rằng: “Trung,
Lịch! Hai con phải dụng đại lễ mà an táng Tương
nghe. Thầy ngặt một lẽ chẳng thế nào đem
Tương vào tam thập lục thiên, phải để nó
đợi nơi Đông đại bộ châu [7]
mà
chờ Tòa Tam giáo phát lạc. Thầy có để lời
cho Thái Bạch Kim tinh cầu rỗi, nhưng Người
giận Tương không công quả, dâng bộ công thiên
thơ ra
trống
trải lắm, tại nơi Tòa mới cãi chối
nỗi gì! Người nhứt định không dự
đến.” [8]
Sự kiện này cho thấy, dù Thầy rất thương
xót các môn đệ, nhưng Thầy cũng không vượt
qua quyền pháp mà đức Lý Giáo tông thực thi.
Năm 1962, tại Hườn Cung Đàn, có lần đức
Lý nhắc các bậc hướng đạo đã lãnh trách
nhiệm trong Tam kỳ Phổ độ phải biết
gắn bó với trách vụ của mình để lo chu toàn,
bởi lẽ đức Giáo tông không hề tư vị.
Ngài dạy: Những trách vụ
ban rồi từ trước, Dầu chư hiền nói
được hay không, Riêng Bần đạo, vì
luật công, Tùy theo Thiên ý, không lòng chúng
sanh. Quả đào tiên không tranh
thì mất, Phép huyền vi không cất thì
rơi, Vạn linh sanh chúng của
Trời, Nỗi thành hay bại do nơi
mình làm.[9] Nắm
quyền pháp, đức Lý Giáo tông nhắc nhở các môn
đệ Cao Đài phải giữ gìn kỷ cương
trong khi hành đạo. Năm 1968, tại thánh tịnh
Ngọc Minh Đài, Ngài dạy: “Bần
đạo thường nói, trước đức Chí tôn
tất cả là anh em, bình đẳng, nhưng trên phương
diện hành sự cần phải có quy tắc, có hệ
thống, có khuôn viên mẫu mực. Bần đạo hôm
nay là Giáo tông Đại đạo Tam kỳ Phổ độ
chớ không là Lý Thái Bạch thi tửu đời
Đường. Lúc nào thi tửu thì khác, khi hành sự
phải trở về với cương vị của người
hành sự.” [10] Hai năm sau, cũng tại
thánh tịnh Ngọc Minh Đài, đức Giáo tông
dạy thêm: “Bần
đạo rất cảm động trước tâm đạo
chí thành của chư đệ. Bần đạo vẫn
thiết tha với chư đệ trên cương vị
Giáo tông, nhưng đó là Bần đạo cùng chư
hiền. Còn về quyền pháp là chuyện khác. Chư
hiền chí tâm tu học, Bần đạo sẽ hộ trì
dìu dắt.” [11] Quyền
pháp của đức Giáo tông rất lớn; Ngài dạy:
“Về
quyền pháp thì Bần đạo có thể bóp nát trái núi
Thái Sơn thành tro mạt, lựa là những hình phạt
hữu vi...” [12] Tuy nhiên, trong kỳ
đại ân xá này, trước khi ra uy đức Giáo tông
vẫn dùng đức từ bi để cảm hóa, và
nhắc nhở con người đừng ỷ lại vào
lòng thương của Ngài mà làm sai quyền pháp. Đức
Giáo tông dạy: “...
Bần đạo còn phải dùng lòng từ bi đối
với toàn cả chúng sinh trong kỳ mạt hạ. Chư
hiền hãy làm như Bần đạo, nhưng nhớ
rằng hễ sai quyền pháp là đắc tội à.”
[13] ·
Xưa kia, ngày 18.10.1936, đức Chí tôn than rằng: Lập một nước
dễ hơn truyền giáo, Truyền dạy người
đắc đạo khó thay! Biết bao kềm sửa
đêm ngày, Làm nên tiên phật
rất dày công phu! [14] Nhớ
lời than này của Thầy, mọi người càng
thấm thía câu hỏi của đức Giáo tông: “Chư
hiền đệ muội có biết tại sao Thượng
đế vẫn theo đuổi những hàng hướng
đạo nhân sinh từng giờ từng khắc? Cũng
như thế, Bần đạo vẫn còn đa mang,
gắn bó với thiên chức Giáo tông Vô vi Đại
đạo Tam kỳ Phổ độ.” [15] Do “đa
mang”, do “gắn bó” với thiên chức Giáo tông mà
đức Lý không thể để mặc cho người
đời cứ trầm luân trong men say tục lụy: Đời
say Ta cũng muốn nên say, Ngặt nỗi còn
mang sứ mạng này...[16] Trước
đó hai năm, tức là năm 1967, đức Giáo tông cũng
dạy như thế: Đời
say Ta cũng muốn nên say, Cho tạm phôi pha
hết tháng ngày. Bởi tánh từ bi
không nỡ bỏ, Vì lòng bác ái mới
ra tay. Chèo thuyền tế
chúng qua bờ giác, Mở Đạo
độ dân đến Phật đài. Cho vẹn nghĩa tình
cùng vạn thế, Cho xong sứ mạng
với nhơn loài.[17] Trong
sứ mạng của Ngài, đức Giáo tông luôn luôn
hết sức ưu ái đối với những ai
biết nhận lãnh trách vụ thế Thiên hành hóa,
cộng sự với Ngài để đem sức phàm
hữu hạn hiệp cùng huyền diệu vô vi chuyển
xoay bánh xe tiến hóa của Thiên cơ. Riêng
đối với Cơ quan Phổ thông Giáo lý, được
thành lập vào năm 1965, và là bộ máy sau cùng của
Đại đạo, đức Lý Giáo tông luôn luôn dành
cho một tấm lòng thương yêu vô cùng đặc
biệt. Ta
mến Ta thương mới chỉ truyền, Giáo tông tạm gác cái
uy quyền. Chỉ còn sư
đệ lời hơn thiệt, Tâm đó lòng đây
bởi vạn duyên.[18] Năm
1969, có lần Ngài dạy: “Việc
đầu tiên của người sứ mạng lưỡng
đài trong Cơ quan, tuy không là hàng giáo phẩm Thiên phong
của Tòa thánh, Hội thánh đã có trong Đạo
luật hiện giờ, nhưng so lại Thiên chức này,
Bần đạo cũng phải nể nang về phần
hy sinh hành đạo của chư hiền đệ
hiền muội mà chớ.” [19] Trên
đường hành đạo, nhân viên Cơ quan luôn luôn
được đức Giáo tông chia sớt những
nỗi ưu tư. Năm Tân Dậu, Ngài dạy: “Bần
đạo đến để chia sớt những nỗi
ưu tư của người Thiên ân sứ mạng đã
vì tiền đồ Đại đạo mà gắn bó
từ mười mấy năm qua và cũng khích lệ chư
hiền đệ muội đã trọn tâm hành đạo.
Trên có Thầy dưới có bạn cùng nhau chia sớt
những nỗi buồn vui mà Bần đạo cũng là
một trong những người bạn đồng
cộng sự vô vi của đức Chí tôn với các hàng
Tiền khai Đại đạo, tất cả đều
cùng một chí hướng phụng sự. Đức Chí
tôn đã ban trao sứ mạng trọng đại thì chư
hiền đệ muội cùng Bần đạo phải
thực hiện được hoàn thành. Có như vậy
chư hiền còn lo gì phải bị trở ngại không
đạt đến chỗ viên thông?” Nhận
những người phàm trần là bạn cộng sự,
đức Giáo tông lúc nào cũng lo lắng cho từng bước
đường hành đạo. Năm Nhâm Tuất, Ngài
dạy: “Chư
đệ muội ôi! Những người con tin của Thượng
đế, những sứ giả Thiên ân, Thượng
đế và chư Phật đều lo lắng cho cả,
trong đó có Bần đạo.” Không
chỉ là lo lắng, Ngài và các đấng Thiêng liêng còn
âm phù mặc trợ cho người hành đạo vượt
qua những lúc thế sự đa đoan, tình đời
bất trắc. Năm Ất Sửu, Ngài dạy: “Hiện tại các chức
vụ đương vi, dầu lớn dầu nhỏ, cũng
đều là những sứ mạng được đức
Chí tôn và Công đồng Tam giáo đặt để, do
đó thần minh hết sức hộ trì không hề sơ
sót.” Lời
dạy này không phải là lần đầu tiên. Khi Cơ
quan Phổ thông Giáo lý hãy còn non trẻ, năm 1966 đức
Giáo tông đã để lời thương yêu tha
thiết: “Bần
đạo xem chư hiền đệ muội là những
người em thân yêu mến luyến, nên đã từng
cho chư thần hộ trợ, vượt qua những lúc
khó khăn, ngang nhiên hành đạo, có lý nào lại không
được lưu chút tình thân, nhớ lời dặn dò
chỉ bảo, để được nhẹ nhàng tâm não,
mát mẻ cõi lòng, mà bắt tay cùng Bần đạo
để lo xây dựng cơ tái tạo ở đời
thượng nguơn.” [20] Chín năm
sau đó, đức Giáo tông nhắc lại: “Hôm
nay Bần đạo muốn cho chư hiền đệ,
hiền muội biết để vững lòng: Đức
Chí tôn Thượng đế hội Công đồng Tam giáo
để quyết định trong cuộc đào thải
hoặc bảo tồn để đưa nhân loại
trở về đời sống an lành trong thượng
nguơn thánh đức, những người có sứ
mạng cứu thế trong giai đoạn này luôn luôn
được sự âm phò mặc trợ của các đấng
Thiêng liêng và chư thần minh quảng bố.” [21] Mọi tâm
tư, tình cảm của người hành đạo trong Cơ
quan Phổ thông Giáo lý lúc nào cũng được đức
Giáo tông chiếu soi thấu đáo. Năm 1971 Ngài
khuyến nhủ: “...
chư hiền gắng kiên nhẫn phục vụ.
Dù trong âm thầm, nhưng không phải chỉ một mình
mình biết đâu.” [22] Thực
sự là vậy. Năm 1967, Cơ quan vừa được
hai tuổi, có một vị trong hàng lãnh đạo Cơ
quan rất nhiệt thành phụng sự, chịu đựng
nhiều nỗi khổ tâm. Và đức Giáo tông đã
đến, đến để an ủi bằng những
lời vô cùng chứa chan: “...
hiền đệ đã rút ruột con tằm để kéo
bao nhiêu cuồn chỉ tơ dệt thành tấm vóc,
Bần đạo biết rõ hết. Nước mắt
hiền đệ chảy lộn vào trong, chẳng khác nào
những mối tâm tư Bần đạo đã chảy
tràn nơi Động Đình hồ.[23]
Hiền đệ! Đành rằng
hiền đệ không nao núng với mọi thử thách bên
ngoài và khó nhọc bên trong, hiền đệ đừng
tưởng không ai biết điều đó. Có nhiều
người biết, trong số đó có Bần đạo.”
[24] Mọi
đạo sự lớn nhỏ của Cơ quan, đức
Giáo tông đều chỉ dạy cặn kẽ. Mỗi khi
người hướng đạo làm được chút
công trạng, Ngài liền để lời khen ngợi, khích
lệ. Nhưng vì tiền đồ, vì sự tiến
bộ chung cho đại cuộc, Ngài khen mà vẫn
phải dặn dò, nhắc nhở những điều còn
thiếu sót. Năm đầu tiên của Cơ quan, Ngài
dạy: “Giờ
nay, Bần đạo đến đây để khen
tặng chư hiền đệ muội đã nhiệt tâm
vì Đạo. Dầu có sơ suất, chẳng qua là tánh
phàm phu còn ẩn trong mảnh hình hài ô trược.
Thỉnh thoảng Bần đạo sẽ đến
nhắc nhở, dặn dò chư hiền mọi việc
để sớm đến mức thành công; ngoại
trừ khi nào chư hiền đệ muội tự
dấn mình vào đường bất chánh, thì Bần
đạo vì quyền pháp, buộc lòng phải ngơ
mắt thi hành theo luật lệ.” [25] Tuy nhiên,
chính trong lúc dặn dò, nhắc nhở ấy, vì e lòng phàm
có chỗ không an thỏa, thế nên đức Giáo tông
lại an ủi, vỗ về: “Chư
đệ muội! (...) Bần đạo rất hân hoan
cảm kích trước tấm lòng thành của chư
đệ muội đối với Chí tôn, với trách
nhiệm. Ngợi khen khích lệ đã hẳn rồi, còn
cần phải nhắc nhở dặn dò thêm mới là thâm
tình chu đáo, phải thế không chư đệ
muội?” [26] Mỗi
một dòng thánh giáo của đức Lý bao giờ cũng
là một dòng chứa chan tình cảm. Biết bao lần
ngọn linh cơ nhiệm mầu trong đêm thanh tĩnh
mịch đã chuyển tải tấm lòng bao la của Ngài
đến với từng con tim của những người
trần tục: Năm tháng ngày
giờ thấm thoát qua, Đêm khuya yên lặng
khắp muôn nhà. Thánh đường chăm
chỉ nghe lời đạo, Chỉ có chư hiền
với có Ta.[27] Đức
Giáo tông đã dạy: “Tâm
đó lòng đây bởi vạn duyên.” Một lần
khác Ngài cho biết vạn duyên ấy đã kết thành
từ trong tiền kiếp: “Nếu
nói đúng ra sự hiện diện giữa Bần đạo
với chư đệ muội giờ này, nếu không
phải là căn tiên cốt phật, nếu không phải
là nguyên căn tá trần thế Thiên hành hóa, chắc
chắn rằng không có cảnh tao ngộ trút hết
bầu tâm tư, cạn tiếng dặn dò, và im lìm
lắng nghe cùng suy nghĩ.” [28] Chính vì
thế, dẫu người phàm tánh tục dễ dàng sơ
tâm lầm lỗi muôn bề, Ngài vẫn không chấp.
Đức Giáo tông dạy: “Sứ
mạng của Bần đạo với sứ mạng
của chư hiền đệ hiền muội như nhau.
Ai chấp ai mà chi. Nếu Bần đạo chấp
những sơ suất nơi thế gian, thì trong giờ này
Bần đạo không đến đây, mà đã ở
chốn non bồng nước nhược, cờ thánh rượu
tiên, ngao du hải hồ bồng đảo, mây gió là thơ,
sơn thủy là đàn, quần tiên là bạn. Còn
nếu chư hiền đệ, hiền muội mà
chấp thì giờ này cũng không có ở đây, mang
đạo phục mấy lớp trong bầu không khí oi
bức, mà đã ở chốn hý viện có đủ máy
điều hòa không khí hoặc ở bãi biển nghinh
phong, hoặc ở chốn non cao tuyết lạnh, hoặc
ở chốn tửu đình hải vị sơn hào.”
[29] Đức
Lý Giáo tông luôn luôn xác định những người hướng
đạo phàm tục và Ngài cùng chung sứ mạng, cùng
đồng hành, do đó cũng cùng chung trách nhiệm. Năm
1973 Ngài dạy: “Chư hiền đệ, hiền
muội! Trên cương vị Tam trấn Oai nghiêm, Bần
đạo có trách nhiệm trước đấng Chí tôn
cùng Tòa Tam giáo để dìu dắt nhơn sanh trên
đường đạo pháp. Còn ở về cương
vị Giáo tông Đại đạo Tam kỳ Phổ độ
là một sự đồng hành như chư hiền đệ
muội có trách nhiệm trong Cơ quan Đạo. Thế nên
sự thành bại, hưng vong, tiến thối, hư nên
do hàng tín hữu gây ra thì Bần đạo cũng như
chư hiền có trách vụ đều thọ lãnh công
hoặc tội của hàng tín hữu trước đấng
Chí tôn và Tòa Tam giáo. “Từ lâu, chư hiền đệ
muội cũng như các hàng Thiên phong chức sắc
đều có lòng thành kính nể Bần đạo
hoặc đức Quan Âm Bồ tát, hoặc đức
Hiệp Thiên Đại đế Quan thánh Đế quân
như những đấng có quyền uy tối thượng
dưới đấng Chí tôn. Lòng thành kính nể đó
khiến chư hiền xem có sự cách biệt quyền uy
và nhiệm vụ giữa chư hiền đối với
Tòa Tam trấn Oai nghiêm. Lòng mến yêu kính nể ấy
rất tốt, nhưng chư hiền không nên xem có sự
cách biệt ấy, bởi lẽ mà Bần đạo
vừa phân giải ở đoạn trên.”
[30] Năm Đinh
Tỵ, với lời tha thiết, đức Giáo tông
khuyến nhủ: “Bần đạo là người anh mật
thiết cộng sự với chư đệ muội
trong Tam kỳ Phổ độ. Chư đệ muội có
lỗi Bần đạo không tránh được sự
quở trách của đức Chí tôn, nên Bần đạo
khuyên chư đệ muội nhớ khi nào lửa lòng
bốc cháy, tự ái dâng cao, hãy nhớ đến Thái
Bạch Kim tinh đang cận kề tất cả chư
đệ muội để sáng soi hòa dịu.” Trong lời khuyến nhủ
ấy, đức Giáo tông đã nhắc: “...
hãy nhớ đến Thái Bạch Kim tinh đang cận
kề tất cả chư đệ muội...”.
Thực
ra, nếu lòng người đầy xáo trộn, thiếu
sự thanh tịnh thuần khiết, thì không thể nào
cảm nhận được sự gần gũi với
Ngài trong sứ mạng song hành. Năm Ất Sửu đức
Giáo tông dạy: “Bần đạo đã đến với chư
đệ muội sau lệnh phán của đức Chí tôn
và Hội Công đồng Tam giáo. Từng bước chân,
từng việc làm, cho đến mỗi tâm tư suy
diễn đều được thần minh ứng
trực. Thế chư đệ muội chưa cảm
nhận được sao? Có lẽ vì động tâm nên
không cảm nhận Thái Bạch Kim tinh bằng Thần, mà
chỉ trông Thái Bạch ở tận Linh Tiêu. (...) Một
sứ mạng song hành nhưng chưa gặp gỡ và chưa
hiểu biết nhau.” Điều
đức Giáo tông mong muốn là người hướng
đạo phải luyện cho tâm lặng lẽ, thanh
tịnh. Được như thế thì con người
chẳng những có thể cảm nhận Ngài từng
khắc từng giây mà còn có thể an nhiên vượt qua
mọi biến thiên của thế sự đa đoan, tình
đời bất trắc. Năm Đinh Tỵ đức
Giáo tông dạy: “Chư
hiền đệ muội! Mỗi lần Bần đạo
đến trần gian cùng với chư đệ muội
đều nhắc nhở gắng tu, gắng học,
luyện kỷ, công phu, làm thế nào cho tâm lặng
lẽ mà sáng suốt, đức ẩn áo mà trưởng
thành. Chỉ có cái bất biến ấy mới ứng
với thiên biến của trần gian.” Người hướng đạo
vì lý do nào đó, nếu không được hay chưa
được diễm phúc lắng nghe lời dạy
của đức Lý qua ngọn linh cơ thì vẫn có Ngài
chiếu soi, chứng giám. Năm Bính Thìn đức Giáo tông
dạy: “...
tuy Bần đạo không đến với chư hiền
bằng cơ nhưng vẫn tiếp nhận công quả, công
trình bằng lý, bằng tâm. Giữa Bần đạo và
chư hiền cùng những người giác ngộ có
sứ mạng đem Đạo xây dựng cuộc đời
đều liên quan chặt chẽ từng giây phút thiêng liêng,
không có gì chư đệ muội đáng ngại
cả...” Mối
liên quan giữa nguời hướng đạo với
đức Giáo tông là liên quan trách nhiệm. Ngài dạy: “...chư
hiền đệ, hiền muội và Bần đạo
vẫn liên quan trên trách nhiệm tạo thế nhân hòa cho
trần gian này an cư lạc nghiệp.” [31] Đó là lý do đức Lý Giáo tông xóa bỏ
sự cách biệt giữa Ngài với những người
hướng đạo trong cõi phàm trần. · Ra
đời năm 1965 Cơ quan Phổ thông Giáo lý
được đức Chí tôn và các đấng Thiêng
liêng minh định là bộ máy sau cùng của Đại
đạo Tam kỳ Phổ độ. Là bộ máy sau cùng
cho nên Cơ quan cũng gánh vác một sứ mạng,
một trọng trách rất đặc biệt trước
đức Chí tôn và nhân sinh. Năm 1971 đức Giáo tông
dạy: “Cơ quan Phổ thông Giáo lý
được lập thành do Thiên cơ định đoạt
trong cuộc luân chuyển tuần hoàn để làm cơ
cứu cánh cho nhân loại trong buổi đời mạt
kiếp. Dầu chư hiền đệ, hiền muội
thấy chỉ là một tổ chức khiêm tốn
nhỏ nhen, đối với sứ mạng cao cả trong
Tam kỳ Phổ độ kể ra như muôn một, nhưng
Bần đạo đã nói, mỗi người đều
có sứ mạng riêng của mỗi người.” [32] Đức
Giáo tông vì lòng ưu ái đối với những người
nhận lãnh trách nhiệm trong bộ máy sau cùng của
Đại đạo, đã không tiếc lời nhủ
khuyên dạy dỗ. Thậm chí, Ngài cũng đã từng
trách những người hướng đạo trên
đường sứ mạng. Trách đó để
rồi lại thương mến an ủi rằng đấy
là lời “trách yêu” mà thôi. Đức Lý Giáo tông
dạy: “Nếu
có sự thúc đẩy cùng trách yêu của Thiêng liêng, chư
hiền đệ, hiền muội cố gắng tìm
hiểu Thiên ý để khỏi uổng công trình của
mình đã trải qua nhiều kiếp tu học.” [33] Những
người do vạn duyên đã kết với đức
Giáo tông nên ngày nay trở thành nhân viên Cơ quan Phổ
thông Giáo lý, dù chỉ giữ một nhiệm vụ
nhỏ nhất chăng nữa, thì tất cả đều
vẫn luôn được Ngài thương tưởng,
hộ trì. Lại
còn nên lưu ý rằng không phải tự dưng mà ai cũng
trở thành nhân viên Cơ quan. Chính đức Giáo tông hé
lộ cho biết Ngài đã vì sứ mạng Cơ quan mà
tác động nhân duyên. Đức Lý dạy Cơ quan
Phổ thông Giáo lý như sau: “Bần đạo đã vì chư
hiền, cầu thỉnh Tam giáo tòa chuyển thâu những
phận sự tài năng đến để giúp việc
cùng chư hiền...”
[34] Một
lần khác, đức Giáo tông dạy: “Chư
hiền đệ là những thủy thủ của
Bần đạo, đang lái chiếc thuyền từ vượt
trùng dương để thực thi những công trình vĩ
đại trên tiền đồ Đại đạo Tam
kỳ. Dầu chuyên nghiệp hay chưa chuyên nghiệp, nhưng
với sự tuyển chọn của Thiêng liêng, không
phải riêng chư hiền đệ mới là kẻ có
duyên phúc trong sứ mạng cao cả này, mà chính duyên phúc
ấy tự Thiêng liêng đem đến để ban cho
chư hiền đệ, hiền muội...” [35] Đức
Lý Giáo tông bao giờ cũng cần nhân sự phụ giúp
cho Cơ quan Phổ thông Giáo lý. Tuy nhiên, nếu ai đã
đến với Cơ quan rồi, mà vì lý do này hay lý do
khác muốn xin nghỉ thì Ngài cũng rộng lòng chấp
thuận. Đức Giáo tông dạy: “... thế nên những vị nào
đã xin nghỉ thì mặc nhiên được lịnh
Bần đạo chấp thuận...” [36] Có
điều, sự chấp thuận ấy chính là một
thiệt thòi rất lớn mà người rời bỏ
bộ máy sau cùng của Đại đạo đã
tự chọn cho mình vì xưa kia đức Lý từng
nhắc nhở: Quả
đào tiên không tranh thì mất, Phép huyền vi không
cất thì rơi. Vạn linh sanh chúng
của Trời, Nỗi thành hay
bại do nơi mình làm.[37] Đối
với các đạo tâm có lòng hoan hỉ, tin tưởng
Cơ quan Phổ thông Giáo lý, nuôi một thiện cảm
với Cơ quan, tuy những vị này chưa có điều
kiện để trở thành nhân viên Cơ quan, thì đức
Giáo tông cũng ban ân chứng chiếu cho các vị
ấy. Đức Giáo tông dạy: “...
trước lòng thành kính của hiền đệ,
hiền muội, tuy chưa tình nguyện vào giúp việc Cơ
quan, nhưng đã có nhiều thiện cảm và lòng tin tưởng
ở sự hành đạo công tâm và quang minh chánh đại
của Cơ quan Phổ thông Giáo lý, nên đã dành
nhiều thì giờ theo dõi, tìm tòi, học hỏi, và
nếu có thích hợp với khả năng và hoàn
cảnh mình sẽ hưởng ứng xung phong vào lãnh
phần công quả giúp Cơ quan, Bần đạo
chấp nhận với lòng chân thành đó.”[38] Ôn
lại lời dạy của đức Giáo tông, không
thể nào kể cho hết tấm lòng của Ngài đối
với Cơ quan Phổ thông Giáo lý: Thương
chư đệ dốc vì đại cuộc, Với
nhơn sanh trên bước hoạn đồ, Dốc
đem đạo lý diễn phô, Cho
người trần tục điểm tô đạo vàng. ... Thương
đệ muội gia công ngày tháng, Tháng
rồi năm dày dạn khó khăn, Không
vì chướng ngại cản ngăn, Dốc
công tâm chí lần phăng tới cùng. ... Bần đạo
đã thương tình vì đó, Cho nhơn viên
lớn nhỏ nữ nam, Chi nên lỡ lúc xao tâm, Lỡ khi sơ
suất cũng làm ngơ cho. Dùng lời lẽ
dặn dò an ủi, Lấy đạo tâm
gần gũi khuyên lơn, Để cho đệ
muội không hờn, Vui lên nhịp bước
thẳng chơn đến cùng.[39] Là một vị Đại
tiên trưởng mà quyền pháp có thể bóp nát trái núi
Thái Sơn thành tro
mạt,[40] thế nhưng
đức Lý Giáo tông lại hết lòng hạ cố, và
hạ cố đến mức đã bảo con người
trần gian rằng Ngài mong được lưu chút tình
thân, mong có lòng thông cảm với Ngài trên bước
đường sứ mạng song hành: “Bần
đạo xem chư hiền đệ muội là những
người em thân yêu mến luyến, nên đã từng
cho chư thần hộ trợ, vượt qua những lúc
khó khăn, ngang nhiên hành đạo, có lý nào lại không
được lưu chút tình thân, nhớ lời dặn dò
chỉ bảo, để được nhẹ nhàng tâm não,
mát mẻ cõi lòng, mà bắt tay cùng Bần đạo
để lo xây dựng cơ tái tạo ở đời
thượng nguơn.” [41] “Chư
hiền đệ ôi! Đại đạo là của nhân
loại, của Chí tôn, mà những sứ mạng là
sứ mạng chung cho nhân loại, cho Chí tôn. Tất nhiên
Bần đạo không phải riêng của Cơ quan, và chư
đệ muội cũng không phải riêng cho Bần đạo.
Thế nên, Bần đạo và chư đệ muội
phải thông cảm để trên dìu dưới
thuận, nương theo quyền năng vô tận mà
tự độ và độ tha.”
[42] Ôi! Muôn
lời vạn tiếng cũng không làm sao có thể nói
hết tấm lòng của đức Giáo tông đối
với Cơ quan Phổ thông Giáo lý. Hôm nay, kỷ niệm
ngày Vía của Ngài, ôn lại những tâm tình thiết
tha, chan chứa yêu thương của đức Đại
tiên trưởng, trong nỗi niềm xúc cảm dạt dào,
giờ đây với lòng vọng hướng về đức
Thái Bạch Kim tinh, vọng hướng về Ánh sao sáng
soi đường nhân loại trong Tam kỳ Phổ độ,
xin nguyện cầu tất cả quyết tâm tinh tiến,
làm tròn trách vụ thiêng liêng, để không phụ lòng
hoài mong của đức Giáo tông từ thuở: Ai đời, ai đạo,
ai tri kỷ, Nhắn gởi cho ai một
tấc tình.[43] LÊ
ANH DŨNG (Phú
Nhuận, 24.9.2002) CHÚ
THÍCH: 1.
Đức Quan Âm Bồ tát
là Nhị trấn, thay mặt đạo Phật. Đức
Quan thánh Đế quân là Tam trấn, thay mặt đạo
Nho. 2.
Thánh ngôn hiệp tuyển,
q. 1, bản in 1964, tr. 52. 3.
Thánh ngôn hiệp tuyển,
q. 1, bản in 1964, tr. 53. 4.
Thánh ngôn hiệp tuyển,
q. 1, bản in 1964, tr. 54. 5.
Hương Hiếu, Đạo
sử, q. 2, bản ronéo, tr. 41. 6.
Tức là ông Nguyễn Văn
Tương (1879-1926), nguyên là Đại lão sư
Nguyễn Đạo Tương trong đạo Minh sư.
Ông quy hiệp Cao Đài, được đức Chí tôn
ân phong là Thượng chưởng pháp, Thuyết pháp
Đạo sư Chưởng quản Oai linh Đạo sĩ. 7.
Là một trong tứ đại
bộ châu. 8.
Hương Hiếu, Đạo
sử, q. 2, bản ronéo, tr. 85. 9.
Huờn Cung Đàn, 30
rạng 01.8 Nhâm Dần (29.8.1962). 10.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 15.4 Mậu Thân (11.5.1968). 11.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 15.7 Canh Tuất (16.8.1970). 12.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 15.7 Canh Tuất (16.8.1970). 13.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 15.7 Canh Tuất (16.8.1970). 14.
Đại thừa chơn
giáo, bài 15: Kiên nhẫn, đàn 04.9 Bính Tý. 15.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 24.3 Kỷ Dậu (10.5.1969). 16.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 24.3 Kỷ Dậu (10.5.1969). 17.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 15.01 Đinh Mùi (23.02.1967). 18.
Cơ quan Phổ thông Giáo lý,
22.4 Nhâm Tý (03.6.1972). 19.
Thiên Lý Đàn, 07.01 Kỷ
Dậu (23.02.1969). 20.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 15.4 Bính Ngọ (03.6.1966). 21.
Cơ quan Phổ thông Giáo lý,
15.3 Ất Mão (26.4.1975). 22.
Cơ quan Phổ thông Giáo lý,
15.3 Tân Hợi (10.4.1971). 23.
Đức Lý còn có tôn
hiệu là Động Đình hồ Đại tiên trưởng. 24.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 15.02 Đinh Mùi (25.3.1967). 25.
Thiên Lý Đàn, 20.5 Ất
Tỵ (19.6.1965). 26.
Cơ quan Phổ thông Giáo lý,
15.01 Quý Sửu (17.02.1973). 27.
Cơ quan Phổ thông Giáo lý,
22.4 Nhâm Tý (03.5.1972). 28.
Thiên Lý Đàn, 23.3 Đinh
Mùi (02.5.1967). 29.
Thiên Lý Đàn, 23.3 Đinh
Mùi (02.5.1967). 30.
Cơ quan Phổ thông Giáo lý,
04.3 Quý Sửu (06.4.1973).
31. Cơ quan Phổ thông Giáo lý, 15.01 Ất Mão
(25.2.1975). 32.
Cơ quan Phổ thông Giáo lý,
18.01 Tân Hợi (13.02.1971). 33.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 01.3 Đinh Mùi (10.4.1967). 34.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 10.6 Ất Tỵ (08.7.1965). 35.
Thiên Lý Đàn, 26.7 Đinh
Mùi (31.8.1967). 36.
Thiên Lý Đàn, 21 rạng
22.3 Giáp Thìn (02.5.1964). 37.
Huờn Cung Đàn, 30
rạng 01.8 Nhâm Dần (29.8.1962).
38. Thánh tịnh Ngọc Minh Đài, 01.11 Bính Ngũ
(12.12.1966). 39.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 14.02 Mậu Thân (12.3.1968). 40.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 15.7 Canh Tuất (16.8.1970). 41.
Thánh tịnh Ngọc Minh
Đài, 15.4 Bính Ngọ (03.6.1966). 42.
Thánh tịnh Thiên Lý Đàn,
26.7 Đinh Mùi (31.8.1967). 43.
Thiên Lý Đàn, 26.7 Đinh
Mùi (31.8.1967). Đôi dòng sơ lược về tác giả Lê Anh Dũng
|
Thiên-Lý Bửu-Tòa, 12695 Sycamore Ave, San Martin, CA 95046 - USA. Tel: (408) 683-0674 Website: www.thienlybuutoa.org Email Sơ đồ hướng dẫn tới TLBT
|